Tam Bá Diễn Nghĩa

Bình Luận

Trần Trung Chính

Tôi đọc tiểu thuyết kiếm hiệp của Kim Dung từ sau tháng 11 năm 1963 với những bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu, Thần Điêu Đại Hiệp, Thư Kiếm Ân Cừu Lục, Thần Đao Hồ Đại Đởm, Cô Gái Đồ Long, Thiên Long Bát Bộ, Lục Mạch Thần Kiếm… Nhà sách Cảnh Hưng trên đường Phan Đình Phùng gần ngã tư Cao Thắng, đối diện với trường tiểu học tư thục AURORE (trường Rạng Đông) được xem là nhà sách cho thuê truyện lớn nhất Sài Gòn với hơn 20,000 quyển sách đủ mọi thể loại.

Tôi là khách hàng quen thuộc đến nỗi không cần phải đặt cọc và nếu bộ truyện nào không đủ bộ thì tôi không thuê đọc. Thí dụ bộ Lộc Đỉnh Ký có 21 quyển tôi thuê một lúc 21 quyển, có 2 vợ chồng Trung úy của Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị đến thuê truyện, bà vợ hỏi tôi làm sao anh đọc hết một lúc 21 quyển? Tôi trả lời dĩ nhiên làm sao đọc hết một lúc được, đọc xong quyển nào tôi đi trả liền để khỏi tốn tiền thuê lâu ngày nhưng phải thuê cả bộ vì nếu không thuê cả bộ (mà chỉ thuê một phần) đến lúc muốn đọc tiếp có người thuê rồi thì chờ đợi không biết chừng nào mới được đọc tiếp! Mất cả hứng thú.

Anh chồng thấy vậy mới nói: “Em thấy chưa, người ta thuê một lúc trọn bộ 21 quyển mà anh thuê chỉ có 5 quyển cũng bị rầy rà”. Tôi hỏi sao chị không cho anh ấy thuê trọn bộ? Chị ấy trả lời: “Thuê có 5 quyển mà còn không chịu phụ giúp tôi dọn dẹp nhà cửa, coi sóc con cái. Nếu thuê cả trọn bộ như anh thì ông chồng tôi thức cả đêm tới sáng để mà đọc, không làm ăn chi cả“.

http://tandaiviet.org/v1/wp-content/uploads/2013/12/GSHUY-405x264.jpg

Năm 1990, tôi được đọc một kiệt tác của Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy viết về những truyện kiếm hiệp của Kim Dung, đó là quyển “NHỮNG ẨN SỐ CHÍNH TRỊ TRONG NHỮNG TIỂU THUYẾT KIẾM HIỆP CỦA KIM DUNG”. Ông là một giáo sư dạy môn Chính Trị Học tại các phân khoa Luật của Đại Học Sai Gòn, Đại Học Dalat, Đại Học Huế, Đại Học Cần Thơ và Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Giáo sư Nguyễn Ngọc Huy có văn bằng Tiến Sĩ Chính Trị Học của Đại Học Sorbonne, Pháp, về nước năm 1964, cùng với Giáo Sư Nguyễn Văn Bông thành lập một lực lượng chính trị, ban đầu là Tân Đại Việt, sau đó có thêm một tổ chức ngoại vi rầm rộ ra đời là Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến.

Tôi gọi là “kiệt tác” vì trước và sau tác phẩm này, chưa có ai có những phân tích độc đáo và chính xác như Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy. Tôi không đọc được sách báo Hoa Ngữ, nhưng tôi nghĩ rằng ngay tại Trung Hoa Lục Địa, Hồng Kông và Đài Loan cũng không có ai viết ra những nhận định như vậy. Ngay cả người đọc, cũng đòi hỏi phải thấu đáo Lịch Sử Trung Hoa, Địa Lý Trung Hoa, Thế Giới Sử, Triết Học, Phật Học và Tâm Lý Học mới tận hưởng sự thích thú những điều Giáo Sư Huy trình bày. Bài viết này chỉ lược trình 5 nhân vật trong quyển Võ Lâm Ngũ Bá:

Cao thủ thứ nhất VƯƠNG TRÙNG DƯƠNG, ông là sáng lập viên và cũng là chưởng môn nhân đầu tiên của phái Toàn Chân, ông qua đời lúc còn rất trẻ (Kim Dung không nói rõ nguyên nhân), ông viết ra 2 bí kíp Cửu Dương Thần Công và Cửu Âm Chân Kinh. Ông có 7 đệ tử gọi là Toàn Chân Thất Tử, người đứng đầu là đạo trưởng Khưu Xử Cơ – là chưởng môn nhân đời thứ hai của phái Toàn Chân. Chưởng môn Vương Trùng Dương có người sư đệ là Châu Bá Thông, võ công trác truyệt, chiến đấu cá nhân còn giỏi hơn Khưu Xử Cơ nhưng ông không truyền chức chưởng môn đời thứ hai cho Châu Bá Thông vì Châu Bá Thông bị mắc chứng bệnh mà trong Tâm Lý Học gọi là “hội chứng trẻ con liên tục” (enfance continue). Cũng vì hội chứng “trẻ con liên tục” mà ngoại hiệu của Châu Bá Thông là Lão Ngoan Đồng. Tính khí còn trẻ con nên tự sáng chế ra món võ Song Thủ Hỗ Bác (2 tay của Châu Bá Thông cùng một lúc đánh ra những thế võ khác nhau khiến đối phương đụng trận đoán sai rồi bị ăn đòn), võ công cao như vậy nhưng Châu Bá Thông không biết phương pháp sư phạm, vì vậy toàn bộ các đệ tử đời thứ ba của phái Toàn Chân đều là các học trò của Toàn Chân Thất Tử. Trong khi đó bản thân Châu Bá Thông không có đệ tử nào hết. Phái Toàn Chân tượng trưng cho nền văn minh cổ đại của Trung Hoa, khởi đầu rất khá nhưng không có cải tiến và hiện đại hóa cũng như không có sáng kiến mới nên không tiến bộ như Nhật Bản, Liên Sô, Anh – Pháp – Hoà Lan…

Mỗi một cá nhân trong Toàn Chân Thất Tử thì không đủ sức chiến thắng Bắc Cái, Đông Tà, Tây Độc, Nam Đế, nhưng nếu cả 7 người đứng chung vào vị thế của Thiên Can Bắc Đẩu Trận thì họ sẽ chiến thắng. Điển hình là Đông Tà Hoàng Dược Sư đã có một lần đối đầu với Thiên Can Bắc Đẩu Trận suýt chết, may nhờ có Mai Siêu Phong – một nữ đệ tử của Hoàng Dược Sư cứu mạng. Mai Siêu Phong từ phía sau đánh lén và hạ sát Đàm Xử Đoan (nhân vật thứ ba trong Toàn Chân Thất Tử) làm thế trận tan vỡ, tuy nhiên Mai Siêu Phong cũng bị hạ sát và Đông Tà Hoàng Dược Sư cũng phải bỏ chạy khỏi chiến trường. Trường hợp này làm người đọc gợi nhớ đến cuộc chiến tranh Hoa – Nhật bắt đầu từ 1937 cho đến 1945, quân Nhật tấn công Nam Kinh, chính phủ của Tướng Tưởng Giới Thạch rút lui về Trùng Khánh, và quân đội Nhật chưa bao giờ dám tiến sâu vào tỉnh Tứ Xuyên (tỉnh Tứ Xuyên có 2 thành phố lớn là Thành Đô và Trùng Khánh). Tỉnh Tứ Xuyên có dân số ngang ngửa với dân số nước Nhật: 100 triệu người Hoa so với 115 triệu của cả nước Nhật.

http://3.bp.blogspot.com/-Jtt5a4IEbV4/UlyvHwKGiSI/AAAAAAAAAqA/T4WcwjCvR8c/s1600/Hoangduocsu1.png

Nhân vật thứ hai BẮC CÁI HỒNG THẤT CÔNG, nhân vật này biểu trưng cho Liên Sô vì Liên Sô ở vị trí địa dư là phía Bắc của Trung Hoa, đương kim bang chủ của Cái Bang – tập họp những người đi ăn xin – được ngầm hiểu là giai cấp vô sản. Kim Dung lựa dòng họ Hồng ngụ ý là Liên Sô Cộng Sản có “hồng kỳ” (cờ đỏ búa liềm màu vàng). Trong bộ truyện kế tiếp là ANH HÙNG XẠ ĐIÊU, Hoàng Dung được Hồng Thất Công trao truyền chức bang chủ Cái Bang, ngày nhậm chức có tất cả bang chúng tham dự, Kim Dung cho độc giả thấy có 2 phe: phe áo sạch và phe áo bẩn. Phe áo sạch ít hơn nhưng ăn mặc bảnh bao sang trọng, mặt mũi có vẻ “trí thức” được hiểu là phe Đệ Tứ Quốc Tế trong nhóm đảng viên Đảng Cộng Sản. Phe áo bẩn đông hơn nhiều, ăn mặc rách rưới, ăn uống ngồm ngoàm đầy rượu thịt và dùng những lời lẽ bặm trợn pha cả chửi thề được hiểu là phe Đệ Tam Quốc Tế trong nhóm đảng viên Đảng Cộng Sản. Trong truyện, Hoàng Dung là con gái của Hoàng Dược Sư, tức là không phải là người Hoa thuần túy, điều này Kim Dung có ẩn ý ví Hoàng Dung giống như Staline kế vị Lenine (vì Staline là người Georgia chứ không phải là người Nga thuần túy).

Cái bang là một bang hội lớn, số lượng thành viên rất đông, có tổ chức rất quy củ và có kỷ luật. Tính từ trên xuống dưới có bang chủ, phó bang chủ, Truyền Công Trưởng Lão, Chấp Pháp Trưởng Lão, 4-6 Trưởng Lão, rồi các chức sắc đeo 10 túi đến 1 túi, các đệ tử tùy theo võ công mà được gắn nhiều hay ít túi vải, đệ tử ăn xin võ công tầm thường chỉ được đeo miếng vải đính trên vai. Cuộc khảo sát và thẩm định võ công do Truyền Công Trưởng Lão phụ trách. Chấp Pháp Trưởng Lão phụ trách phần luận tội và thực thi hình phạt để duy trì kỷ luật của bang chúng.

Suy ra Cái Bang có uy thế xã hội và thực lực chính trị lớn hơn phái Toàn Chân rất nhiều.

Nhân vật thứ ba ĐÔNG TÀ HOÀNG DƯỢC SƯ, tất cả ngôn ngữ chữ viết và lối sống y hệt người Hoa, nhưng Đông Tà là chủ nhân của Đào Hoa Đảo, ở vị trí địa dư phía đông của lục địa nên người đọc hiểu Đông Tà Hoàng Dược Sư là biểu trưng của Nhật Bản. Nhật Bản tiến đánh Trung Hoa tức là tranh giành ngôi bá chủ với Trung Hoa, vì vậy quyển truyện có tên là VÕ LÂM NGŨ BÁ.

Nhân vật thứ tư TÂY ĐỘC ÂU DƯƠNG PHONG, đến từ phía tây của Trung Hoa, tính tình hơi cổ quái ngang ngược, có cậu cháu gọi bằng chú đi theo là Âu Dương Công Tử, nhưng ngoại hình y hệt như Âu Dương Phong nên mọi người hiểu Âu Dương Công Tử chính là con ruột của Âu Dương Phong. Võ công kém sút mấy người kia, nhưng lấy lại thăng bằng ngang ngửa vì sử dụng ám khí rất giỏi và biết sử dụng và tự bào chế được các chất độc hại. Tây Độc Âu Dương Phong biểu trưng cho văn minh Tây phương, phát triển về cơ khí và chiến tranh hóa học cũng như chiến tranh vi trùng.

Nhân vật thứ năm ĐOÀN NAM ĐẾ, ông là vua nước Đại Lý thuôc tỉnh Vân Nam, một xứ mà vua quan, thần dân đều sùng bái đạo Phật. Ngay khi đang trị vì, nhà vua cũng là một nhà sư Phật Giáo (trong truyện VÕ LÂM NGŨ BÁ, Kim Dung còn gọi Đoàn Nam Đế là NHẤT ĐĂNG ĐẠI SƯ), võ cống tầm thường, thua kém mấy người kia, nhưng có ngón võ LĂNG BA VI BỘ nên chả ai đánh trúng được vị vua hiền từ này. Đoàn Nam Đế biểu trưng cho nước Thái Lan, những vị vua từ RAMA 4 (vua Chulalongkorn) đến RAMA 9 (vua Bhumipol vừa mới qua đời) đã khéo léo luồn lách dẫn dắt quốc gia Thái Lan đứng ngoài mọi cuộc tranh chấp của các thế lực quốc tế.

http://sto.depplus.vn/NewsMedia/assets/image_20150611/41861_20150611135410.jpg

Người viết chọn TAM BÁ vì nhận ra rằng chính trị tranh chấp của các thế lực quốc tế ảnh hưởng đến nước Việt Nam của chúng ta chỉ còn 3: Nhật Bản bị loại bỏ vì sau khi bị 2 quả bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki, thế lực của Nhật Bản hoàn toàn không còn dính dáng đến Việt Nam nữa. Thái Lan cũng đang phải lo sống còn cho đất nước của họ, cho nên cũng không dính dáng gì đến Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung. Đế quốc Anh và Pháp cũng kiệt quệ sau đệ nhị thế chiến, hầu hết các thuộc địa đều được trao trả độc lập, phải nhờ đến chương trình Marshall của Hoa Kỳ để xây dựng lại hạ tầng kinh tế; chỉ có nước Pháp còn dính líu đến chiến tranh Việt Pháp 1946 – 1954: quân đội Pháp chiến đấu với quân Việt Minh là nhờ quân viện của Mỹ rồi sau Hiệp Định Geneve 1954, thế lực của nước Pháp hoàn toàn rút khỏi Việt Nam. Từ 1954 chỉ có 3 thế lực hiện hữu và hiện diện tại Việt Nam, đó là Hoa Kỳ, Liên Sô và Trung Cộng.

http://3.bp.blogspot.com/-9FlXF5qqZdY/UBejZDhAECI/AAAAAAAABPQ/xSqBIsO3o3Y/s1600/ThreeKingdoms2010poster.jpg

Có 2 quyển sách viết về TAM QUỐC của Trung Hoa mà người đọc thường hay lầm lẫn:

1. Quyển Tam Quốc Chí của tác giả Trần Thọ, đây là quyển sách ghi lại những sự kiện lịch sử xảy ra trong thời Tam Quốc (từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 4 sau Thiên Chúa Giáng Sinh). Tam Quốc Chí được viết vào khoảng cuối thế kỷ thứ 3 sang đầu thế kỷ thứ tư.

2. Quyển Tam Quốc Diễn Nghĩa của tác giả La Quán Trung, viết vào cuối đời Nguyên đầu đời nhà Minh (tức là cuối thế kỷ 13 sang đầu thế kỷ 14) và Tam Quốc Diễn Nghĩa ra đời sau quyển Tam Quốc Chí tới suýt soát trên 1,000 năm, đây là tiểu thuyết dã sử, căn cứ vào những dữ kiện có thật nhưng thêm vào những lời bình luận của một số nhà phê bình và chính La Quán Trung cũng đưa vào sách những câu chuyện của những nhân vật phụ thuộc như Dương Tu, Tào Thực… hay những lời bàn cách dụng binh của Tào Tháo mà Tam Quốc Chí không có.

Chú thích của người viết: trong bảng xếp hạng những danh gia bàn luận về giá trị của quyển BINH PHÁP TÔN TỬ, những lời ghi chú và bình luận của Tào Tháo được xếp vào hạng nhất vì chính Thừa Tướng Tào Tháo cũng là một vị Đại Tướng đã tổ chức, điều khiển và tham dự nhiều trận chiến lớn nhỏ để thu tóm quyền lực chính trị. Thí dụ trận Xích Bích, Tào Tháo phải đương đầu với 2 cừu địch là Đô Đốc Chu Du của nhà Ngô và Quân Sư Khổng Minh của nhà Tây Thục. Tào Tháo đã điều động 83 vạn binh, một con số mà vào thời đệ nhị thế chiến (thế kỷ thứ 20) chỉ có Hitler và Staline mới sử dụng số lượng binh sĩ bằng hoặc hơn Tào Tháo đã sử dụng vào thế kỷ thứ 3.

Bài viết này của tôi được gọi là “diễn nghĩa” vì tất cả các dữ kiện đều có thật, độc giả có thể tra cứ bất kỳ nguồn tài liệu nào, có khác chăng là cách diễn nghĩa khác mà thôi. Tài liệu chiến tranh Việt Nam thời kỳ 1945 – 1975 thì đầy rẫy và hầu hết đã được bạch hóa từ các phía như Hoa Kỳ, Liên Sô (nhất là tài liệu trong thư viện của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản), Trung Cộng, Pháp , Anh, VNDCCH, VNCH, nhóm Thiên Chúa Giáo, nhóm Phật Giáo Ấn Quang, nhóm Giao Điểm, Việt Nam Quốc Dân Đảng, Đại Việt Quốc Dân Đảng, Đại Việt Cách Mạng Đảng, Duy Dân Quốc Dân Đảng (lãnh tụ là nhà cách mạng Lý Đông A ), Dân Xã Đảng , Cao Đài. Hòa Hảo…Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng sự “diễn nghĩa” của tôi sẽ làm sáng tỏ thêm những sự kiện còn mờ tối mà tất cả các phe phái tham chiến không nói hết sự thật để thủ đắc cái gọi là “chính nghĩa” dành riêng cho phe phái của mình trước trách nhiệm của lịch sử dân tộc Việt Nam.

Dĩ nhiên độc giả có quyền lên tiếng phản luận, “vặn hỏi” hay biểu lộ sự đồng tình với “diễn nghĩa” của người viết. Tuy nhiên để tránh làm mất thì giờ của các độc giả khắp nơi trên diễn đàn, người viết sẽ không trả lời những câu hỏi và sự chỉ trích lẩm cẩm và ngớ ngẩn vì sự “ĐỐI THOẠI” chỉ có giá trị khi tất cả các bên đều có trình độ nhận thức tương đẳng và nhất là phải có sự tương kính tối thiểu của những con người “có học”.

DIỄN NGHĨA THỨ NHẤT: Các giáo sĩ Pháp trong Hội Thừa Sai Paris có phải là những chó săn dẫn đường cho Đế Quốc Pháp xâm lăng Việt Nam?

Về mặt biểu kiến thì đúng là như vậy nhưng nguyên nhân sâu xa thì không hẳn là như vậy (nói theo luận điểm của Việt Cộng là “hiện tượng giống nhau nhưng bản chất khác nhau”). Sự phát triển khoa học – kỹ thuật trong thế kỷ 17 -18 đã khiến cho các nước như Anh, Pháp, Bỉ, Hoà Lan, Đức, Italia … thiếu nguyên liệu và nhiên liệu cung ứng cho các nhà máy kỹ nghệ. Mà Âu châu thì chẳng có nguyên liệu cho nên các nước kỹ nghệ hóa phải trang bị hải quân để đi xâm chiếm thuộc địa ở Phi Châu và Á châu. Nước Anh thực hiện chính sách thực dân đầu tiên, thứ nhì là Hòa Lan, nước Pháp đứng hạng ba. Thực dân Anh và thực dân Hòa Lan đi xâm chiếm thuộc địa không cần các giáo sĩ Thiên Chúa Giáo đi đầu. Riêng thực dân Pháp, các giáo sĩ TCG bị mang tiếng không tốt vì những biến cố đặc biệt như sau:

1.1 Cuộc Cách Mạng 1789 đã phá tan tành 2 giai cấp “Quý Tộc” và “Tăng Lữ Thiên Chúa giáo(TCG)”, sau khi lật đổ vua Louis 16, chính quyền cách mạng do Robespierre và Dalton lãnh đạo đã chặt đầu vợ chồng vua Louis 16 và hoàng hậu Marie Antoinette, rồi tiếp theo là một số nhà quý tộc và các giáo sĩ TCG. Để trốn tránh, một số lớn đã bỏ trốn sang Anh, Phổ (Prusse), Ý, Tây Ban Nha… Một số giáo sĩ chạy qua Penang (lúc đó thuộc đế quốc Anh) chờ thời. Ở Việt Nam, thời điểm 1789 là lúc Quang Trung Hoàng Đế tiến quân ra Bắc để đánh đuổi quân Thanh do Tôn Sĩ Nghị chỉ huy.

1.2 Tất cả các vương quyền của Âu Châu như Anh, Phổ, Nga, Áo…sợ ảnh hưởng của Cách Mạng Pháp sẽ làm họ mất quyền như dòng họ Bourbons (các vua Louis) nên thành lập Liên Quân kéo vào lật đổ chính quyền Cách Mạng. Chính quyền Cách Mạng cử Tướng Bonaparte làm Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp để chống cự, tướng Bonaparte đánh bại liên quân vương quyền rồi kéo quân về Paris đảo chánh chính quyền Cách Mạng, xưng đế lấy hiệu là Napoléon Đệ Nhất.

Trích dẫn (tài liệu của ông Nguyễn Gia Kiểng sưu tầm)

…cuộc Cách Mạng 1789 đã rất khốc liệt và đẫm máu cho nước Pháp và cho cả Âu Châu nói chung. Những người Cách Mạng Pháp đã tàn sát thẳng tay đồng bào họ, mới đầu là thành phần quý tộc và hàng giáo phẩm Công Giáo cao cấp, sau đó đến hàng giáo phẩm cơ sở mà một phần không nhỏ lúc đầu ủng hộ Cách Mạng, rồi họ đập phá nhà thờ và cấm đạo Công Giáo. Sau Giáo Hội Công Giáo đến lượt các thành phần dân chúng bày tỏ sự bất mãn cũng bị coi là phản cách mạng và bị tàn sát.

Sau cùng là sự tàn sát lẫn nhau giữa các khuynh hướng trong hàng ngũ cách mạng. Để có một ý niệm, ta có thể trưng dẫn 2 thí dụ: một là giai đoạn được gọi là Kinh Hoàng (La Terreur) trong đó trong vòng không đầy 2 năm, chính quyền Cách Mạng của Robespierre và Saint Just đã xử tử hơn 100,000 người trong đó 17,000 người bị chặt đầu bằng máy chém… Hai là cuộc nổi dậy của nông dân vùng Vendée, trong đó có hơn 200,000 người bị giết. Những người Cách Mạng Pháp không chỉ tàn sát đồng bào họ và tàn sát lẫn nhau, họ còn giao chiến với tất cả các nước khác tại Âu Châu. Phải nói là nước Pháp lên cơn điên. Và cũng không phải chỉ có thế, Cách Mạng 1789 còn mở đường cho Napoléon thiết lập chế độ quân chủ và gây chiến với tham vọng làm bá chủ toàn Châu Âu. (Hết trích)

1.3 Các sử gia của Cộng Sản và một số khoa bảng của Phật Giáo vẫn lên án vua Gia Long là “cõng rắn gà nhà” (vì ông tiếp xúc và nhờ vả một số nguời Pháp mua bán vũ khí). Đó là một sự kết tội “vu vơ” thiếu hợp lý. Nguyễn Phúc Ánh chiến thắng nhà Tây Sơn lên ngôi vua xưng là Gia Long Hoàng Đế vào năm 1802, thời điểm này Hoàng Đế Napoléon còn đang bận “làm bá chủ toàn thể Âu Châu” nên ngay tại Việt Nam không có người Pháp nào hiện diện. Vậy vua Gia Long có muốn “cõng rắn” thì cũng chẳng thể có rắn để mà cõng!

( Ghi chú của người viết: năm 1815, Napoléon trốn thoát khỏi đảo Elbe trong Địa Trung Hải – nằm giữa nước Pháp và Italia – trở về Pháp, đuổi vua Louis 18 ra khỏi cung điện Versailles, nhưng cai trị chỉ đúng 100 ngày, rồi bị liên quân Anh + Áo + Phổ + Nga đánh bại tại Waterloo, một địa danh nằm trong nước Bỉ. Lần này Napoléon bị đày sang đảo Sainte Hélène giữa Đại Tây Dương và chết vào năm 1821).

1.4 Thời điểm Cách Mạng Pháp 1789 và thời Napoléon, các giáo sĩ của Giáo Hội Công Giáo Pháp còn đang phải tìm đường trốn khỏi nước Pháp, một số may mắn vượt đến Á Châu (Malaysia và Việt Nam) thì lối xưng tụng “các giáo sĩ Pháp đi mở mang nước Chúa” tại Việt Nam chắc chắn chỉ để “khoe mẽ” hay chỉ để “tự sướng” mà thôi. Thí dụ minh họa: giáo sĩ Pigneau de Béhaine (giám Mục Bá Đa Lộc) về già không dám trở lại Pháp để nghỉ hưu mà theo vua Gia Long vào Việt Nam để rồi chết già tại Sài Gòn, mả của ông nằm trước cổng trại Phi Long của Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH cũng là cửa đi vào phi trường Tân Sơn Nhứt cho nên cũng gọi là Cổng Lăng Cha Cả.

http://static9.nguyentandung.biz/files/2013/02/loan-luan-trieu-nguyen-2-280213.jpg

1.5 Hoàng Tử Cảnh theo Giám Mục Bá Đa Lộc sang Pháp vào năm 1787 -- thời điểm trước cuộc Cách Mạng Pháp 1789, chuyến đi này không có kết quả gì cả vì vua Louis 16 còn phải lo nội tình của nước Pháp. Khi trở lại Á Châu, Hoàng Tử Cảnh bị bệnh đậu mùa và qua đời khi còn rất trẻ. Hoàng Tử Cảnh theo đạo Công Giáo do Giám Mục Bá Đa Lộc đỡ đầu. Khi ông qua đời Hoàng Tử Cảnh có 2 người con trai còn nhỏ. Khi vua Gia Long hỏi ý kiến quần thần để đặt vua kế vị, Tả Quân Lê Văn Duyệt tiến cử người con trai lớn của Hoàng Tử Cảnh. Nhưng vì còn quá nhỏ nên vua Gia Long quyết định chọn Hoàng tử Đảm lên kế vị (tức là vua Minh Mạng sau này). Từ đó, Thái Tử Đảm rất ghét Tả Quân Lê Văn Duyệt nhưng không thể làm gì được.

Năm 1819, vua Gia Long băng hà, Thái Tử Đảm lên ngôi kế vị đặt hiệu là Minh Mạng, lúc đó ông đã 30 tuổi. Không rõ ông Lê Văn Duyệt mất vào năm nào, nhưng con nuôi của ông là Lê Văn Khôi nổi loạn vào năm 1833. Trong thời gian ông Lê Văn Duyệt còn sống, ông phải ra Huế để chầu vua Minh Mạng, ông đem 5,000 lính từ Gia Định theo hầu. Số lính này do Lê Văn Khôi cai quản, nếu ông Lê Văn Duyệt vào chầu vua Minh Mạng mà không thấy trở ra, thì Lê Văn Khôi sẽ tấn công HUẾ (ngự lâm quân của vua Minh Mạng chỉ có 2,000 lính). Sau khi dẹp tan loạn Lê Văn Khôi vào năm 1836, vua Minh Mạng bắt đầu cấm đạo Thiên Chúa vào năm 1837, phần lớn do ông ghét Hoàng Tử Cảnh và hận thù Lê Văn Duyệt, Lê Văn Khôi… chớ những người theo đạo Thiên Chúa vào thời điểm giữa thế kỷ 19 ở nước ta, kihông đủ nhiều để có thể làm lung lay ngôi vị của vua Minh Mạng!

1.6 Những người VN hiện nay (2017) – nhất là nhóm theo phe của tập đoàn tăng lữ Bình Trị Thiên thường ông ổng kết án ông Pétrus Ký đã viết thư yêu cầu quân đội Pháp chiếm toàn thể VN: nhóm này không có học sử nên không biết các thời điểm thực tế. Ông Pétrus sinh năm 1837, trong khi quân đội Pháp vào Đà Nẵng năm 1847 (cuối đời Thiệu Trị) và mãi tới 1859 mới bắt đầu tấn công Sàigòn và năm 1862 mới chiếm được 3 tỉnh miền Đông. Ông Petrus khi viết thư yêu cầu quân đội Pháp chiếm toàn cõi VN để bảo vệ những người theo Thiên Chúa, thì cũng là chuyện thường tình: theo tôi ông Pétrus Ký chỉ đòi hỏi “công bằng” cho chính ông và những người theo đạo Thiên Chúa bị vua Minh Mạng – Thiệu Trị - Tự Đức đàn áp). Trong khi những người khác thì lại đòi hỏi “công lý” cho lịch sử VN, thật là “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” không phù hợp và ăn khớp chút nào cả!

Tương tự như vậy, vào năm 1979, khi Trung Cộng dạy cho Việt Cộng “bài học”, có thể nói tất cả quân cán chính VNCH đang bị cầm tù trong các trại “cải tạo” cũng toàn thể những “nạn nhân” của chế độ CSVN cũng đều có tâm trạng giống như ông Pétrus Ký hồi thế kỷ 19, mặc dù cũng chẳng có ai ưa Trung Cộng!

DIỄN NGHĨA THỨ HAI: Chỉ vì là tín đồ Thiên Chúa Giáo nên anh em của Tổng Thống Ngô Đình Diệm và Cố Vấn Ngô Đình Nhu bị bọn Cộng Sản và các vệ tinh của Việt Cộng rêu rao là “tay sai” của Vatican và các thế lực đế quốc ngoại bang. Luận điệu này có những sai lầm nghiêm trọng như sau:

2.1 Bọn Việt Cộng và các vệ tinh của Việt Cộng vu cáo anh em dòng họ Ngô Đình làm ray sai cho Tòa Thánh Vatican và các thế lực Tây Phương để khỏa lấp tính tay sai cho Liên Sô và Trung Cộng của chúng. Bọn này được 2 tên đầu sỏ của khối Cộng trang bị đầy đủ cả về tinh thần (tư tưởng Marxism – Leninist và tư tưởng Maoism) lẫn vật chất (giúp đỡ cả về nhân lực cũng như quân trang quân dụng và lương thực thuốc men…)

2.2 Trong thế chiến thứ 2 và thời gian sau đó, Tòa Thánh Vatican không có một chút ảnh hưởng nào (và cũng không được các đại cường mời tham dự) trong việc can dự vào tình hình chính trị trên thế giới. Mở lại trang lịch sử thế giới, việc phân định địa giới chính trị và công tác đánh đổ phe trục Đức - Nhật – Italia nằm trong tay các đại cường như Hoa Kỳ (Tổng Thống Roosevelt), Liên Sô (Chủ Tịch Stalin), Anh Quốc (Thủ Tướng Churchill), Trung Hoa Dân Quốc (Tổng Thống Tưởng Giới Thạch); ngay cà nước Pháp cũng không được mời. Những lãnh tụ của các đại cường liên tiếp mở những cuộc họp tại Yalta (Liên Sô), Teheran (Ba Tư) và Cairo (Ai Cập) và sau khi Hitler tự sát các đại diện của họ lại họp với nhau lần chót tại Postdam (một thành phố của nước Đức) để phân định lại các địa giới chính trị trên thế giới.

2.3 Bọn Việt Cộng và các vệ tinh của Việt Cộng không đưa ra được các bằng chứng mà anh em dòng họ Ngô Đình đã tiếp xúc với ai trong Tòa Thánh Vatican hay với chính giới của Pháp. Thời gian Hồ chí Minh cướp chính quyền, ông Ngô Đình Nhu hoàn toàn im lặng và dấu mình rất kỹ, nếu ông xuất đầu lộ diện thì ông đã bị giết như ông Phạm Quỳnh, cha con ông Ngô Đình Khôi – Ngô Đình Huân, ông Tạ Thu Thâu…rồi còn đâu.

Sau khi Mao Trạch Đông đả bại Quốc Dân Đảng Trung Hoa khiến Tổng Thống Tưởng Giới Thạch phải chạy ra đảo Đài Loan, có thể nói trong chính giới của Việt Nam chỉ có ông Ngô Đình Nhu nhận ra Hoa Kỳ là quốc gia ở xa nhất nhưng chi phối Việt Nam mạnh mẽ hơn Liên Sô và Trung Cộng, bởi vậy ông nghĩ ra phương cách tiếp cận với chính giới Hoa Kỳ để ông Ngô Đình Diệm có thể nắm chính quyền. Người Việt Nam chúng ta không có tập quán và suy nghĩ thực dụng như người Mỹ cho nên vẫn chưa hiểu lý do tại sao người Mỹ lại không tin cậy quốc trưởng Bảo Đại. Cứ nhìn vào các đại công ty của Mỹ, chủ nhân sáng lập ra Công Ty rất ít khi trao quyền thừa kế cho con cái của họ, nhất là những người con đó không có kỹ năng lãnh đạo: thà rằng bỏ tiền ra thuê người có khả năng tài giỏi điều hành công ty tốt hơn là trao quyền cho con cái để rồi sau một thời gian ngắn, công ty tan vỡ lụn bại. Quốc Trưởng Bảo Đại là “play boy” chứ không phải là chính trị gia có viễn kiến, cho nên việc ông Ngô Đình Diệm lên làm Thủ Tướng Chính Phủ vào ngày 25 tháng 6 năm 1954 không phải là điều ngạc nhiên và lạ lùng. (nghĩa là trước ngày ký Hiệp Định Geneve 1954 chỉ có 3 tuần lễ)

2.4 Hồ chí Minh tuyên bố độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945, nhưng không một quốc gia nào thừa nhận. Ngay chính quân đội Pháp cũng không có tính cách pháp lý để trở lại Đông Dương, do sự vận động riêng của cá nhân tướng Charles de Gaule với Thủ Tướng Churchill xin phép đạo quân viễn chinh của Pháp (do tướng Leclerc chỉ huy) theo chân tướng Gracey đem 5,000 quân Anh - Ấn vào Sài Gòn giải giới quân đội Nhật từ vĩ tuyến 16 xuống phía nam. Còn từ vĩ tuyến 16 trở ra thì quân đội của Trung Hoa Dân Quốc do tướng Lư Hán chỉ huy, có nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật. Đây là những điều khoản quy định trong thỏa ước Postdam, cho nên chính phủ của Hồ Chí Minh không hề dám phản đối cho dù chỉ phản đối bằng giấy tờ của Bộ Ngoại Giao chả hạn.

2.5 Một lý do chính yếu mà Hồ chí Minh không dám công bố, đó là vì hồ sơ phản gián của Anh – Pháp và của chính quyền Trung Hoa Quốc Dân Đảng biết chắc chắn Hồ Chí Minh nằm trong Phong Trào Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản. Nước Ấn Độ to lớn và quan trọng hơn VN mà chính phủ Anh sẵn sàng trao trả độc lập cho Ấn Độ vào năm 1947 vì Mahatma Gandhi không phải là Cộng Sản. Sự chuyển đổi danh xưng từ Đảng Cộng Sản Đông Dương qua danh xưng Đảng Lao Động Việt Nam chính là để che giấu sự trừng trị của thế lực Quốc Dân Đảng Trung Hoa và thế lực của quân đội viễn chinh Pháp chứ không phải để che giấu quần chúng Việt Nam: thời điểm 1945 – 1954 có rất ít người Việt Nam hiểu rõ Cộng Sản là gì.

DIỄN NGHĨA THỨ BA: sự chiến thắng của Mao Trạch Đông và Đảng Cộng Sản Trung Hoa vào năm 1949 tại lục địa Trung Hoa là một sự kiện trọng đại đối với cuộc chiến Việt Nam. Không ai có thể phản bác rằng nếu Mao không chiếm được toàn thể Trung Hoa Lục Địa thì quân lực Việt Minh không thể có chiến thắng Điện Biên Phủ.

https://3.bp.blogspot.com/-D8LTjcbIL7Q/V9SpYfgmbiI/AAAAAAAARV4/9ersUpGyGkgpMf69J0Kg-_zqhKqc5Vs3ACLcB/s1600/van3080-5.jpg

Trung Hoa vào thời điểm 1949 không phải là một quốc gia sản xuất vũ khí. Ba (3) ngày trước khi Nhật Bản đầu hàng Đồng Minh, Liên Sô tuyên chiến với Nhật Bản mà không có một trận giao tranh nào cả. Sau khi Nhật Bản đầu hàng, Liên Sô giải giới quân Nhật tại ranh giới Mãn Châu chiếm toàn bộ quân trang, quân dụng và vũ khí, xe cộ của 01 triệu quân (cỡ hơn 100 sư đoàn bộ binh) rồi trao lại cho quân đội Cộng Sản của Mao Trạch Đông. Quân đội Quốc Dân Đảng không có trọng pháo, không có phương tiện chuyên chở và thiếu lương thực nên liên tiếp hàng chục sư đoàn bộ binh bị tiêu diệt.

Năm 1946, tướng Marshall sang Trùng Khánh gặp Tổng Thống Tưởng Giới Thạch, phía Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu Hoa Kỳ viện trợ quân sự để trang bị cho 100 sư đoàn bộ binh. Nhưng Hoa Kỳ không có đủ khả năng lớn lao như vậy vì sau 1945, chính phủ Hoa Kỳ giảm quân số, mặt khác quân đội Hoa Kỳ chiến đấu chống Nhật tại mặt trận Á Châu lại không có trọng pháo và xe cộ di chuyển như các đại đơn vị bộ binh bình thường (nguyên do chiến trường tại Á Châu là chiến trận xảy ra từng đảo lớn nhỏ nên khi đổ bộ lên đảo, bộ binh và Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ không cần trang bị pháo binh và xe cộ di chuyển – xem hình ảnh tại Iwojima và Okinawa)

Ghi chú của người viết: nhiều nhà báo và bình luận gia cho rằng Hoa Kỳ thường hay phản bội và “bỏ rơi” đồng minh, trường hợp xảy ra đối với Trung Hoa Dân Quốc là không đúng. Tướng Marshall thấy rằng Hoa Kỳ đã không có khả năng đáp ứng yêu cầu của chính phủ Trung Hoa Dân Quốc, và có viện trợ đi nữa thì thời gian ngắn quá không thể đảo ngược được tình thế bất lợi, nên Hoa Kỳ bỏ luôn.

Mao Trạch Đông đuổi được Tưởng Giới Thạch chạy ra đảo Đài Loan, Mao tự coi mình như Tần Thủy Hoàng xua quân đi tóm thâu lục quốc nên y ta xua quân Trung Cộng đi xâm chiếm các lân bang, trước hết là vào năm 1950, quân đội Mao đã tràn vào Hàn Quốc (Kim Nhật Thành chỉ là bình phong chứ thực ra 90% là quân của Trung Cộng). Một điểm nữa là Mao chẳng cần biết đến Quốc Tế Công Pháp hay lịch sử thế giới gì hết, Mao không hề biết Hoa Kỳ là một đại cường thứ thiệt, có sức mạnh gấp nhiều lần các đế quốc Anh, Pháp, Hoà Lan, Bi cộng lại. Và Hoa Kỳ đã đứng ra đảm nhận vai chống Cộng (chống xâm lược) trên toàn thế giới.

3.1 Khi Kim Nhật Thành xua quân xâm lăng Nam Hàn, Hoa Kỳ đã yêu cầu Hội Đồng Bảo An thông qua nghị quyết cho phép Hoa Kỳ cùng những đồng minh khác sử dụng quân đội chiến đấu chống quân xâm lăng Bắc Hàn dưới lá cờ của Liên Hiệp Quốc. Nghị quyết được thông qua dễ dàng mà không gặp sự phủ quyết của Liên Sô vì ngoại trưởng Molotov ra lệnh cho đại sứ Liên Sô tại Liên Hiệp Quốc vắng mặt.

3.2 Quân đội của Mao chiếm toàn thể Hoa Lục nhưng Trung Cộng dưới danh nghĩa Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa chưa được công nhận, Liên Sô không thể bênh vực một thực thể chính trị chưa có và cũng không phải là thành viên của Liên Hiệp Quốc. Mặt khác, việc làm của Bắc Hàn và Trung Cộng không có quy định trong thỏa ước Postdam của các đại cường mới ký hồi tháng 5 năm 1945.

3.3 Quân Liên Hiệp Quốc tham dự chiến trận tại Triều Tiên năm 1950 có tổng số 280,000 người mà Hoa Kỳ có 250,000 người do Đạị Tướng Mac Arthur chỉ huy, do đó Tướng Mac Arthur kiêm nhiệm luôn chức vụ Tổng Tư Lệnh quân đội Liên Hiệp Quốc tham chiến tại Triều Tiên. Quân đội các nước khác tham chiến như Anh, Pháp, Australia, New Zealand, Thổ Nhĩ Kỳ… Nước Pháp gửi 2 tiểu đoàn quân Lê Dương tham chiến, Thổ Nhĩ Kỳ gửi 01 tiểu đoàn bộ binh… Mặc dù quân số tham chiến ít ỏi, nhưng nước Pháp sau này đã được Hoa Kỳ viện trợ quân sự trong trận chiến Việt Nam thời gian 1952 – 1954. Và Thổ Nhĩ Kỳ đã được Hoa Kỳ tích cực yểm trợ gia nhập khối NATO sau này mặc dù 95% lãnh thổ nằm tại Á Châu. Điều đó nói lên tầm nhìn xa trông rộng của lãnh đạo nước Thổ Nhĩ Kỳ: gửi 01 tiểu đoàn bộ binh tham chiến tại Triều Tiên mà giữ được toàn vẹn lãnh thổ không bị Liên Sô xâm chiếm lãnh thổ. Đó là tấm gương đáng noi theo của những nhà lãnh đạo các quốc gia nhược tiểu trước những tham vọng bá quyền của những đại cường.

3.4 Quân Bắc Hàn tiến rất nhanh, quân Nam Hàn non trẻ (thiếu sĩ quan, thiếu vũ khí và ít ỏi cả về số lượng lẫn khả năng chiến đấu) phải lui quân về phía cực nam bán đảo Triều Tiên chỉ còn 10 km là ra biển để… vượt biển qua Nhật Bản tỵ nạn. Tướng Mac Arthur đổ bộ thành phố Inchon (có vị trí địa dư tương tự như tỉnh Bình Định của Việt Nam), Thủy Quân Lục Chiến và bộ binh của Hoa Kỳ được pháo binh Hải Quân yểm trợ tối đa nên đã cắt đứt được Hàn Quốc ra làm 2. Riêng trong trận Inchon quân Bắc Hàn bị bắt làm tù binh lên tới 180,000 người, quân Liên Hiệp Quốc tiến về phía Bắc xua đuổi quân Bắc Hàn đến tận sông Áp Lục (ranh giới giữa Triều Tiên và Trung Hoa). Mao Trạch Đông liền ra lệnh cho Nguyên Soái Bành Đức Hoài đem 01 triệu quân kéo sang Bắc Hàn giúp Kim Nhật Thành (dưới danh xưng là Chí Nguyên Quân Trung Hoa). Cá nhân người viết được xem film tài liệu về chiến trận tại Triều Tiên năm 1950 – 1953: quân Trung Cộng đông như kiến mà hỏa lực cổ điển diệt không xuể. Tướng Mac Arthur phải cho lui quân về phía Nam, đồng thời xin phép Tổng Thống Truman cho sử dụng pháo đài bay B-29 để oanh tạc và kéo quân Hoa Kỳ đi đường khác đánh tập hậu quân của Bành Đức Hoài, kể cả vượt sông Áp Lục đánh vào Mãn Châu.

3.4 Tổng Thống Truman liền cách chức Đại Tướng Mac Arthur và bổ nhiệm tướng Ridway lên thay thế. Tổng Thống Truman quan niệm rằng Trung Hoa Lục Địa quá to lớn (cứ xem đạo quân Quan Đông của Nhật đóng tại Mãn Châu tới một triệu quân mà chả thấm thía gì), Hoa Kỳ không đủ nhân lực và tài lực để chiến thắng. Tổng Thống Truman không muốn Hoa Kỳ sa lầy tại mặt trận Trung Hoa để rồi Liên Sô nuốt chửng toàn Âu Châu.

3.5 Tướng Ridway không phải là người nghĩ ra chiến thuật T.O.T. của pháo binh, ông chỉ là vị tướng đầu tiên của lục quân sử dụng chiến thuật T.O.T. để chận đứng chiến thuật “biển người” của Chí Nguyện Quân Trung Hoa. T.O.T. là viết tắt của Target On Time có nghĩa là nhiều trăm khẩu trọng pháo đặt trong nhiều vị trí với khoảng cách khác nhau được Trung Tâm Hành Quân tính toán sao cho đạn nổ chụp vào nơi tập trung quân địch cùng nổ một lúc. Chiến thuật T.O.T hiệu quả hơn dùng máy bay oanh tạc đối phương. Vùng vĩ tuyến 38 toàn là đồi núi hang động nên hiệu quả của hải pháo cũng bị giới hạn. Thành công của Tướng Ridway là bộ binh của Trung Cộng và Bắc Hàn không thể vượt qua giới tuyến này cho nên tới năm 1953 hai bên đã phải ký thỏa thuận ngưng bắn Bàn Môn Điếm.

Thỏa thuận ngưng bắn mà không phải là Hiệp Ước Đình Chiến, cho nên cho tới nay 2017 (sau 64 năm) Bắc Hàn và Nam Hàn vẫn còn trong tình trạng chiến tranh. Thực tế vào năm 1953, Trung Cộng, Bắc Hàn và Nam Hàn chưa được công nhận là quốc gia và cũng không phải là hội viên của Liên Hiệp Quốc. Trung Cộng đem 01 triệu Chí Nguyện Quân mà hỏa lực của quân đội Hoa Kỳ ước đoán phe Cộng bị thiệt hại về nhân mạng lên tới 400,000, đó là lý do chính khiến phe Cộng phải chấp nhận thỏa thuận ngưng bắn!

 http://hanoimoi.com.vn/Uploads/tuananh/2014/7/14/0714_Geneva1.jpg

DIỄN NGHĨA THỨ TƯ: Hiệp định Genève được ký ngày 20 tháng 4 năm 1954 không phải là chiến thắng đánh đuổi được thực dân Pháp ra khỏi nước Việt Nam và cũng không hẳn là sự thất bại của chính phủ Pháp.

Một văn hào Tây phương (mà tôi không nhớ tên) đã viết: “Một nửa ổ bánh mì vẫn là ổ bánh mì, nhưng một nửa sự thật vẫn không phải là sự thật“, Tương tự như vậy, tôi cũng có thể suy diễn: “Một vửa ổ bánh mì vẫn là ổ bánh mì, nhưng một nửa chiến thắng vẫn không phải là chiến thắng”

Hiệp Định Genève 1954 quy định Hồ chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam chỉ cai trị một lãnh thổ phiá Bắc của vĩ tuyến 17 có tên gọi là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, phần còn lại tính từ vĩ tuyến 17 cho đến mũi Cà Mau có tên gọi là Quốc Gia Việt Nam do Quốc Trưởng Bảo Đại đứng đầu (Sau cuộc Trưng Cầu Dân Ý vào tháng 10 năm 1955, Quốc Gia Việt Nam chuyển đổi thành Việt Nam Cộng Hòa do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo).

Năm 1979, sau khi Đặng Tiểu Bình dạy cho Việt Nam một bài học, CSVN mới công bố “Sách Trắng Về Trung Quốc”. CSVN cho rằng chính Chu Ân Lai – Thủ Tướng Quốc Vụ Viện kiêm Ngoại Trưởng, đã thúc ép Hồ chí Minh và Phạm Văn Đồng phải ký vào Bản Hiệp Định Genève 1954. Thực tế mà nói, sau khi căn cứ Điện Biên Phủ bị thất thủ, quân Việt Minh cũng không còn đủ sức để tấn công thêm nữa vì quân đội Pháp vẫn giữ vững được các mặt trận khác.

Ngay sau khi chiếm được Hoa Lục vào năm 1949, Mao Trạch Đông liền mở 2 mặt trận Triều Tiên và Việt Nam cùng một lúc. Chiến dịch biên giới của Võ Nguyên Giáp khiến quân đội Pháp phải rút bỏ quân khu Cao Bằng – Lạng Sơn và khu mỏ than Đông Triều (thuộc 2 tỉnh Quảng Ninh và Hải Dương) bị uy hiếp trầm trọng. Năm 1951, Bộ Quốc Phòng Pháp gửi Thống Tướng (Tướng 5 sao) De Lattre De Tassigni sang Đông Dương làm Tư Lệnh đạo quân viễn chinh gồm 220,000 binh sĩ.

Là một tướng giỏi, Thống Tướng De Lattre De Tassigni đã đẩy lui quân Việt Minh và quân Trung Công sang bên kia biên giới Hoa Việt. Tuy nhiên, ông thừa hiểu là nước Pháp không đủ sức theo đuổi cuộc chiến nên ông đã sang Hoa Kỳ cầu viện.

4.1 Không ai đặt câu hỏi là chính phủ Pháp tại sao không chỉ định Ngoại Trưởng hay Bộ Trưởng Quốc Phòng, hay ít ra đích thân Thủ Tướng Chính Phủ sang Hoa Kỳ vận động cầu viện, mà lại chỉ định ông Tư Lệnh Quân Đội Viễn Chinh Pháp tại chiến trường Đông Dương đi Hoa Kỳ cầu viện. Lý do Thống Tướng De Lattre De Tassigni quen biết thân mật với Đại Tướng Eisenhower (thời điểm đó vừa mới đắc cử chức vụ Tổng Thống Hoa Kỳ) trong giai đoạn quân đội Đồng Minh giải phóng Âu Châu vào năm 1944, lý do vừa mới nêu trên có vẻ hợp tình nhưng thiếu hợp lý.

4.2 Cả 2 phía Pháp và Hoa Kỳ chỉ đưa ra thành quả của chuyến đi cầu viện này là Hoa Kỳ cung cấp vũ khí đạn dược cho quân đội viễn chinh Pháp tại chiến trường Đông Dương mà không đưa ra chi tiết nội dung thảo luận giữa Thống Tướng De Lattre De Tassigni và Tổng Thống Eisenhower, theo nhận xét riêng của người viết: chính nội dung cuộc thảo luận này mới đưa đến sự can dự của Hoa Kỳ vào chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1946 -1954.

4.3 Vì không có tài liệu hay chứng từ nên những điều được viết ra sau đây chỉ là phỏng đoán dựa theo thực tế đã diễn ra. Tổng Thống Eisenhower nhận xét là nước Pháp không thể thắng trong cuộc chiến này, chuyện quân đội viễn chinh của Pháp phải rút ra khỏi Đông Dương là điều tất yếu phải xảy ra. Thống Tướng De Lattre De Tassigni hoàn toàn đồng ý với nhận xét này. Tiếp theo là Tổng Thống Eisenhower đề nghị là Hoa Kỳ sẽ thay thế Pháp tại Việt Nam trong mục tiêu ngăn chận làn sóng Cộng Sản tại Việt Nam. Tuy nhiên vào thời điểm 1952, Hoa Kỳ đang kẹt 250,000 binh sĩ tại Triều Tiên nên không thể giúp Pháp về mặt nhân lực được. Tổng Thống Eisenhower đề nghị là quân đội viễn chinh Pháp chuyển từ mục tiêu chiến thắng quân đội Việt Minh sang mục tiêu làm tổn hại tiềm năng quân sự của Việt Minh để Hoa Kỳ có giải pháp chính trị cho Việt Nam. Bù lại Hoa Kỳ sẽ viện trợ kinh tế cho nước Pháp qua chương trình tái thiết Âu châu của tướng Marshall.

4.4 Sau khi Thống Tướng De Lattre De Tassigni rời Hoa Kỳ trở về Đông Dương, chính phủ Hoa Kỳ cử Đại Tá Lansdale sang Việt Nam vào năm 1953. Đại Tá Lansdale là sĩ quan tình báo cao cấp của Hoa Kỳ, công việc của ông là dọn dường chuẩn bị nhân sự thực hiện đường lối chính trị của Hoa Kỳ. Ông không tiếp xúc với các đảng phái chính trị hoạt động tại miền Bắc và miền Trung Việt Nam, mà ông chỉ hoạt động tại miền Nam. Điều cho phép tôi đưa ra nhận xét cá nhân là Hoa Kỳ biết trước tình hình Việt Nam sẽ chia 2 trước khi có Hiệp Định Genève 1954.

4.5 Trở lại Đông Dương từ Hoa Kỳ, Thống Tướng De Lattre De Tassigni phải về Pháp trị bệnh ung thư và qua đời sau đó không lâu. Thay thế ông là Đại Tướng 4 sao Raoul Salan, ông Raoul Salan sang Đông Dương từ năm 1924 với cấp bậc Trung Úy, trong vòng 28 năm phục vụ tại Đông Dương trung úy Raoul Salan được thăng cấp tới Đại Tướng. Kế hoạch xây dựng căn cứ Điện Biên Phủ đã được soạn thảo từ thời tướng Salan, nhưng tướng Navarre hoàn tất kế hoạch này với những chi tiết thực hiện rồi Bộ Quốc Phòng Pháp chuẩn thuận để trình lên Quốc Hội Pháp xin ngân sách thực hiện.

4.6 Căn cứ Điện Biên Phủ có nhiều sơ hở, thí dụ như là nằm dưới thung lũng bị các trọng pháo trên các cao điểm khống chế. Sơ hở thứ hai là nếu bị vây hãm, căn cứ Điện Biên Phủ không có đường bộ để đưa tiếp viện vào trong căn cứ. Duy nhất chỉ có thể tiếp tế bằng dù của không quân mà thôi. Để cân bằng hỏa lực, độc nhất chỉ có giải pháp oanh tạc bằng không quân mà thôi. Nhưng không lực của quân đội Pháp tại Đông Dương lại quá yếu nên hiệu quả chẳng là bao.

Câu hỏi được đặt ra là các danh tướng như Thống Tướng De Lattre De Tassigni, Đại Tướng Raoul Salan, Trung Tướng Navarre cùng tất cả các tướng lãnh trong Bộ Tổng Tham Mưu và các viên chức cao cấp trong Bộ Quốc Phòng Pháp không biết đến những nhược điểm của căn cứ Điện Biên Phủ hay sao? Do đó suy luận của người viết là căn cứ Điện Biên Phủ chỉ là “cục đường” để quyến dụ binh lực của Việt Minh đến bao vây xung quanh căn cứ rồi bị hỏa lực tiêu diệt.

Căn cứ Điện Biên Phủ thất thủ chỉ là sự thất bại của tướng De Castries và quân trú phòng (tổn thất 50% quân số của 16,000 binh sĩ, nhưng phía Việt Minh bị tổn thất là bao nhiêu thì Hồ chí Minh và Võ Nguyên Giáp giấu biệt, tới nay 2017 vẫn chưa ai biết số tổn thất của Việt Minh Cộng Sản). Nhiều nhà bình luận chính trị thời đó cho rằng binh đội Việt Minh Cộng Sản đã đánh bại ý chí chiến đấu của chính phủ Pháp và nhân dân Pháp (thực ra chính phủ Pháp và dân chúng nước Pháp đã quá mệt mỏi, cả 2 đều muốn rút chân ra khỏi vũng lầy Động Dương). Thắng lợi lớn nhất của chính phủ Pháp là sau này được chính phủ Hoa Kỳ viện trợ kinh tế trong kế hoạch mang tên Marshall tái thiết Âu Châu do hoàn thành nhiệm vụ “ngăn chận“ quân Cộng Sản giúp Hoa Kỳ có thời gian để củng cố chính quyền của VNCH.

DIỄN NGHĨA THỨ NĂM: Phía Việt Cộng đặt tên cho chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 là CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG, phía các học giả và nhà nghiên cứu của Hoa Kỳ và Âu Châu cho rằng chiến tranh Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 là NỘI CHIẾN CÓ QUỐC TẾ CAN THIỆP (một danh xưng khác có tên là CHIẾN TRANH ỦY NHIỆM), phía các nhà nghiên cứu của VNCH thì gọi là CHIẾN TRANH Ý THỨC HỆ.

http://pppre.s3.amazonaws.com/371d4940d912fc92/b14247df209c4c34b789b97ebb1a219d.jpg

Cá nhân người viết bài cho rằng Tổng Ủy Dân Vận dưới thời ông Hoàng Đức Nhã làm Tổng Ủy Trưởng (1973) gọi chiến tranh Việt Nam với danh xưng CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC CỦA CỘNG SẢN QUỐC TẾ là đúng nhất và chính xác nhất. Hệ quả của Chiến Tranh Xâm Lược là quân dân VNCH bị bắt buộc phải tham chiến để BẢO VỆ TỔ QUỐC ,BẢO VỆ THÂN NHÂN GIA ĐÌNH và BẢO VỆ NHỮNG DI SẢN TINH THẦN CỦA DÂN TỘC VIỆT.

Thí dụ minh họa: 2 anh em được cha mẹ chia gia tài là 2 căn nhà sát vách nhau. Cả 2 anh em đều ký tên vào chứng từ di sản thừa kế, và cũng có lên văn phòng hành chánh của County xin chứng chỉ mà Hoa Kỳ thường gọi là Tranfer Ownership Application. Thời gian sau người anh kéo lâu la bè đảng với vũ khi trong tay vào nhà người em nói là căn nhà này của tao rồi đuổi gia đình người em ra khỏi nhà. Tuy nhiên, sổ bộ nhà đất của County không bao giờ chuyển ownership authorization cho người anh, và người em có quyền xin án lệnh của Tòa trục xuất người anh ra khỏi nhà của mình và yêu cầu ông Biện Lý bắt giam người anh về tội ăn cướp có vũ khí (tội hình chứ không phải tranh chấp dân sự).

Khi Việt Cộng ký tên vào bản Hiệp Định Geneve 1954 có nghĩa là ký vào văn bản “chứng từ di sản thừa kế”. Tới năm 1960 thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rồi kéo cả triệu quân Bắc Việt vào Nam, tức là mở ra CHIẾN TRANH XÂM LƯỢC với sự trợ giúp của Liên Sô và Trung Cộng. Năm 1973 ký vào Hiệp Định Paris 1973 trong khoản 21B có ghi: “… nhân dân miền Nam sẽ tự quyết định tương lai của mình thông qua cuộc bầu cử…Chính phủ 3 thành phần sẽ đứng ra tổ chức bầu cử… Chính phủ Hoa Kỳ sẽ viện trợ 3 tỷ dollars để tái thiết Việt Nam…” ( Ghi chú: người viết chỉ ghi đại ý chứ không copy nguyên văn).

Sau 30 tháng 4 năm 1975, Việt Cộng hí hửng và hồ hởi tuyên bố là chiến thắng Đế Quốc Mỹ và đòi chính phủ Mỹ phải bồi thường chiến tranh 3 tỷ dollars, nhưng chính phủ Mỹ không thèm trả lời cũng như không đưa ra bất cứ khoản tiền viện trợ hay bồi thường chiến tranh nào cả. Khôi hài thay, suốt 42 năm qua chính quyền Việt Cộng không làm sao giải thích được với nhân dân miền Bắc là sao Việt Cộng chiến thắng mà Hoa Kỳ không bồi thường chiến tranh đồng xu cắc bạc nào cả. Quân dân VNCH đã có câu trả lời là: “Chơi cờ gian bạc lận mà đòi người ta chung tiền là thế nào?”

Phe Cộng Sản có 2 nhóm có tên là GIÁO ĐIỀU và XÉT LẠI, 2 nhóm này đấu đá nhau rất quyết liệt (ở Việt Nam thường là phe xét lại bị thua thiệt nhiều hơn). Xin mượn lời nhận xét của bình luận gia Nguyễn Xuân Nghĩa để chấm dứt bài viết này: “ Cả 2 phe Giáo Điều và Xét Lại đều nhận biết chủ nghĩa Cộng Sản là SAI, nhưng cả 2 phe đều không biết làm như thế nào là ĐÚNG”. Chính vì thế ngay từ 1958 khi phong trào NHÂN VĂN – GIAI PHẨM nở rộ, nhà thơ Phan Khôi đã chọc quê Đảng Cộng Sản Việt Nam qua 2 câu thơ móc lò:

Càng sai thì càng sửa

Càng sửa lại càng sai.

San José ngày 30 tháng 4 năm 2017

Trần Trung Chính