Từ 30. 4.1975, dân VN đã học được điều gì?

Bình Luận

Ký Thiệt - Nhân ngày 30.4.2017, Sử gia Trần Gia Phụng đã viết bài “Chính thống hay ngụy quyền” được mở đầu như sau:

Từ năm 1945 cho đến nay, cộng sản (CS) luôn luôn giành chính nghĩa về phần mình, gọi Quốc Gia Việt Nam (QGVN) rồi Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là “ngụy quân”, “ngụy quyền”… Bài nói chuyện nầy xin dựa vào lịch sử để xác định rõ ràng ai là chính thống và ai là ngụy quyền?

. . . . . . . . "Chế độ tự mệnh danh là “Cộng Sản”, là “Xã hội Chủ nghĩa” tại Việt Nam ngày nay thật ra đã biến thể thành một gian đảng cấu kết với nhau để tiếp tục nắm quyền, tàn phá đất nước, đày ải nhân dân, hoàn toàn bán linh hồn cho bọn Hán tộc tham tàn phương Bắc."

“Chế độ khốn nạn” ấy, lời Luật sư Nguyễn Văn Đài, không thể tồn tại, nhưng nó sẽ không biến mất nếu dân Việt Nam không quật khởi đứng lên, tự cứu lấy mình, gia đình mình, và đất nước của mình.

Không ai có thể làm thay dân Việt Nam điều ấy, dù là Liên Hiệp Quốc, dù là những tổ chức Nhân quyền quốc tế với danh xưng hay đẹp, lại càng không thể là siêu cường Hoa Kỳ, anh “Sen đầm quốc tế” đã thấm mệt và mất “uy” đối với các trùm gian đảng trên thế giới.

Có khi những “can thiệp” này nọ từ bên ngoài, dựa trên những nguyên tắc cao đẹp của loài người văn minh, lại bị bọn gian đảng tại Quận Ba Đình, Hà-nội, khai thác, giúp chúng mua thêm thời gian để tồn tại.

Trong chữ “chính thống”, thì “chính” là “ngay thẳng”, “đích xác”; còn “thống” là “mối tơ”, giềng mối nối tiếp nhau. Nói chung, “chính thống” là dòng chính từ trước ra sau, từ trên xuống dưới. Ví dụ dòng chính của một dòng họ, một môn phái, một học thuyết. Trong chính trị, chính thống là sự tiếp nối chính thức từ đời trước qua đời sau, đúng theo luật định, tập quán, phong tục…

 Trái với “chính” trong chữ “chính thống”, là “ngụy”. “Ngụy” có nghĩa là giả, không thật, không chính thống. Các nhà cầm quyền thường tự cho mình là chính và dùng chữ “ngụy” để chỉ những đối thủ chính trị, như ngụy triều, ngụy quyền, ngụy quân. Ví dụ gần nhứt trong lịch sử là nhà Nguyễn (vua Gia Long) gọi nhà Nguyễn (vua Quang Trung) là “ngụy triều”, “ngụy Tây”, “ngụy Tây Sơn” … 

 Nhân viết về nhà Tây Sơn, sử gia Trần Trọng Kim bàn rằng: "Những người làm quốc sử nước Tàu và nước ta thường cứ chia những nhà làm vua ra chính thống và ngụy triều. Nhà nào, một là đánh giặc mở nước, sáng tạo ra cơ nghiệp, hai là được kế truyền phân minh, thần dân đều phục, ba là dẹp loạn yên dân, dựng nghiệp ở đất trung nguyên, thì cho là chính thống. Nhà nào, một là làm tôi cướp ngôi vua, làm sự thoán đoạt không thành, hai là xưng đế, xưng vương ở chỗ rừng núi, hay là ở đất biên địa, ba là những người ngoại chủng vào chiếm nước làm vua, thì cho là ngụy triều." (Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Sài Gòn, Nxb. Tân Việt, in lần thứ bảy, 1964, tr. 367, chương “Nhà Nguyễn Tây Sơn”.)

Tuy vậy, có triều đại cầm quyền do đảo chánh, cướp ngôi, lúc đầu bị xem là ngụy triều, nhưng nhờ có công chống ngoại xâm hay xây dựng đất nước hợp lòng dân, nên được gọi là chính thống. Trái lại, có triều đại chính thống, nhưng về sau trở nên tàn bạo hoặc cầu viện ngoại bang, thì lại bị xem là ngụy triều.

Ngoài những tiêu chuẩn trên đây, ngày nay trên toàn thế giới, một chế độ được xem là chính thống khi được dân chúng chọn lựa qua một cuộc phổ thông đầu phiếu minh bạch, tự do dân chủ, xây dựng đất nước, tôn trọng dân quyền và nhân quyền, bảo vệ tổ quốc, chống ngoại xâm. Nói ngắn gọn, một chế độ chính thống là một chế độ “của dân, do dân và vì dân”. (ngưng trích)

Sau khi dẫn chứng lịch sử Việt Nam cận đại đưa tới việc đảng Cộng sản VN (CSVN) chiếm đoạt chính quyền cho đấn nay, ông Trần Gia Phụng kết luận:

Nếu muốn viết đầy đủ vấn đề chính thống hay ngụy quyền ở Việt Nam trong cuộc chiến vừa qua, thì có thể cả một quyển sách cũng chưa đủ, nhưng ở đây thời gian không cho phép, nên bài nầy chỉ phác thảo sơ lược những nét chính của vấn đề.

Vấn đề chính thống hay ngụy quyền không phải tự biên tự diễn như CS mà được. Cộng sản chỉ giỏi to miệng tự đề cao và to miệng vu khống người khác. Việc thẩm định chính thống và ngụy quyền sẽ do lịch sử phán xét, dựa trên nền tảng dân ý. “Trăm năm bia đá thì mòn, Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.” Bia miệng chính là dân ý lưu truyền qua hàng ngàn năm lịch sử.

Dân ý ở trong nước hiện nay như thế nào thì mọi người đều đã biết, khi các cuộc biểu tình đòi quyền sống, đòi tự do dân chủ, đòi dân quyền và nhân quyền, chống Trung Cộng, phản đối chế độ CS, hằng ngày được phổ biến lan tràn trên Internet.

https://3.bp.blogspot.com/-f4noqji4rxo/WQ23ioItrLI/AAAAAAAAWdo/K2uZ-9bAgcAYefefDT3DMstvkdkCRlhQwCLcB/s1600/khangthu.jpg

Những biểu ngữ, những khẩu hiệu của dân chúng cho thấy cộng sản chỉ là một chế độ hành dân, hại dân và phản dân. Điều nầy không có gì là lạ, vì chế độ CS dựa trên chủ thuyết Mác-Lê, mà ngày nay, ai cũng biết chủ thuyết Mác-Lê chỉ là một ngụy thuyết. Ngụy thuyết Mác-Lê sinh ra ngụy đảng CS và ngụy quyền CS.

Ngược lại, cũng trong các cuộc biểu tình, các lễ tưởng niệm, các cuộc tụ họp của dân chúng, ý dân, lòng dân được thể hiện qua sự xuất hiện của lá Cờ vàng ba sọc đỏ, biểu tượng của Việt Nam Cộng Hòa, hiện đang bị CS cấm đoán. Cấm đoán thì cấm đoán, nhưng làm sao cấm được ý dân, ngăn được lòng dân.

Vì nhiều lý do phức tạp, Việt Nam Cộng Hòa đã thất bại trong cuộc chiến vừa qua, nhưng sau cơn gió bụi trong thời chiến làm mờ mịt thức mây, ngày nay mọi người đều sáng mắt ra, mới hiểu ra vấn đề, và ước mơ Việt Nam Cộng Hòa trở lại. Việt Nam Cộng Hòa tuy chưa hoàn hảo, nhưng nhân bản, dân chủ, tam quyền phân lập rõ ràng, cương quyết bảo vệ lãnh thổ, chống ngoại xâm. (Ở Việt Nam có chuyện tiếu lâm là mấy ông thầy bói mù cũng sáng mắt ra sau năm 1975.)

Ý dân, lòng dân là nền tảng để lịch sử phán xét. Với nền tảng ý dân và lòng dân hiện nay như thế, rõ ràng Việt Nam Cộng Hòa mới đúng là chế độ chính thống trong cuộc chiến vừa qua. Lòng dân ước mơ, lòng dân mong đợi, thì trước sau gì Việt Nam Cộng Hòa cũng sẽ có ngày trở lại. Hiện tình rối loạn trong nước cho thấy ngày đó sẽ không xa. (ngưng trích)

Nhưng, bài học lịch sử ấy đã dạy dân Việt Nam điều gì?

Để nhận rõ điều ấy, cần biết những diễn tiến đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973 và những gì đã xảy ra trước và sau ngày 30.4.1975 liên quan đến vận mệnh Việt Nam.

Cuộc hòa đàm Paris bắt đầu từ 15.3.1968 vào cuối nhiệm kỳ TT Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời TT Richard Nixon với Henry Kissinger, Cố vấn An ninh của ông Nixon, qua những cuộc “đi đêm” với Lê Đức Thọ của CSBV và “trả giá” với quan thầy của CSBV là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai. Nhưng sau đó cuộc hòa đàm bế tắc vì TT Nguyễn Văn Thiệu không chấp nhận những điều kiện do CSBV đưa ra khiến CSBV chấm dứt hòa đàm. TT Nixon đã ra lệnh Không Quân Hoa Kỳ thả bom xuống Hà-Nội và Hải-Phòng liên tục trong 12 ngày đêm vào cuối năm 1972.

Nhờ đó, cuộc hòa đàm khai thông, và đến ngày 23.1.1973 Kissinger và Lê Đức Thọ đồng ý bản thỏa hiệp sơ bộ, và bốn ngày sau, 27.1.1973, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết.

Bản Hiệp Định được gọi là “chấm dứt chiến tranh và tái lập hòa bình tại Việt Nam” thực chất chỉ là một văn kiện bán đứng VNCH cho phe Cộng sản do Kissinger (HK) ký với Lê Đức Thọ (CSBV). Việt Nam Cộng Hòa (Trần Văn Lắm) chỉ được ký với cái gọi là “Chính phủ lâm thời Cộng Hòa Miền Nam VN” (Nguyễn Thị Bình), một con ma do CSBV dựng ra và đã biến mất dạng sau khi CSBV chiếm được Miền Nam VN.

Về hình thức thì như vậy. Về nội dung, nó là một chén thuốc độc do Cộng sản pha chế và giao cho “phù thủy” Kissinger để ép “đồng minh” VNCH phải uống: bộ đội CSBV xâm lược được ở lại miền Nam “tại chỗ” mà chúng đã chiếm được. Mỹ sẽ rút hết quân trong vòng 60 ngày. Điều quái gở không kém là Chính phủ VNCH và “Chính phủ lâm thời Cộng Hòa miền VN” (ma) sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc bầu cử dân chủ và tự do để dân miền Nam VN bầu ra một chính phủ duy nhất và chấm dứt chiến tranh (!).

Thật ra, không đời nào VNCH ký‎ vào bản án tử hình của chính mình, nếu không được TT Nixon đích thân cam kết với TT Thiệu sẽ oanh tạc nếu CSBV vi phạm HĐ Paris, và không bị ông Nixon đe dọa tính mạng (“I don’t know whether the threat goes too far or not, but I’d do any damn thing, that is, or to cut off his head if necessary.”

Ông Nixon đã nói như vậy tại Tòa Bạch Ốc ngày 20.1.1973, sau khi ông đã đắc cử nhiệm kỳ 2, “nhờ” TT Thiệu đã nhượng bộ, đồng ‎ý ký vào bản Hiệp Định.

Nếu VNCH sụp đổ trước ngày bầu cử tổng thống Mỹ hay TT Thiệu không chịu ký vào Hiệp Định Paris trước ngày bỏ phiếu sẽ là “thảm họa” cho ông Nixon.

http://p2.sanwen8.com/68/2014/02/0312/38732468_97.jpg

Những tay đánh bạc bịp
trong canh bài Chiến tranh Việt Nam (1972)

TT Nixon cần có Hiệp Định Paris để đắc cử nhiệm kỳ tổng thống thứ 2 và khoảng thời gian cần thiết để Mỹ rút quân an toàn ra khỏi Việt Nam và có một nền “hòa bình trong danh dự” (đối với người Mỹ). Còn số phận của “đồng minh” VNCH thì cả Nixon và Kissinger đều đã biết.

Hiệp Định Paris được “bốn bên” long trọng ký kết vừa tròn một năm thì vào tháng 1 năm 1974, TT Thiệu đã tố cáo cộng quân vi phạm ngưng chiến, tiếp tục mở các cuộc tấn công quy mô nhỏ để giành dân lấn đất.

Không có phản ứng nào từ phía Hoa Kỳ, trong lúc Quốc hội Mỹ tiếp tục giảm viện trợ cho Việt Nam từ 2.2 tỉ Mỹ kim cho tài khóa 1973 xuống còn phân nửa, 1.1 tỉ cho năm 1974, và 700 triệu Mỹ kim cho 1975. Cùng thời gian ấy, CSBV được Liên-Sô và Trung Cộng gia tăng chi viện tối đa với mục đích dứt điểm miền Nam VN. Miền Nam Việt Nam càng ở trong trình trạng nguy hiểm, khó tự vệ hơn khi Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua đạo luật 1974 Foreign Assistance Act, chấm dứt tất cả những viện trợ quân sự, khiến   Hoa Kỳ không thể dùng không quân để yểm trợ QLVNCH khi CSBV vi phạm Hiệp Định Paris, mở những cuộc tấn công lớn.

Và điều đó đã xảy ra không lâu. Ngày 6.1.1975 CSBV đánh chiếm tỉnh Phước Long và ngày 7.1.1975 đánh chiếm tỉnh Bình Long. Thấy Hoa Kỳ bất động, không phản ứng, ngày 8.1.1975 Hà Nội ra lệnh tổng tấn công xâm chiếm miền Nam, ngang nhiên xua quân vượt qua vĩ tuyến 17, ồ ạt tấn công chiếm Vùng I và II Chiến Thuật vào tháng 3, 1975 và mục tiêu cuối cùng là Sài-Gòn, đúng như dự đoán của Nixon và Kissinger vào năm 1972.

Ngày 23.4.1975, TT Gerald Ford, người thay thế Nixon (từ chức vì vụ Watergate), tuyên bố chiến tranh Việt Nam chấm dứt, Hoa Kỳ không can thiệp.

Vào buổi trưa ngày 29.4.1975, Đài Phát Thanh Sài-Gòn truyền đi bản nhạc “I’m Dreaming of a White Christmas” qua giọng ca du dương của Bing Crosby, mật hiệu báo cho người Mỹ còn ở Việt Nam biết cuộc di tản cuối cùng đưa họ ra khỏi nơi đây đã bắt đầu.

Đó cũng là điệu nhạc ảo não tiễn đưa cái chết của Tự Do tại miền Nam Việt Nam, và cũng là cái chết của “lương tâm nhân loại”, của công l‎ý vì “thế giới văn minh” đều im lặng trước tiếng hò reo đắc thắng của những kẻ xâm lược bằng xe tăng, đại pháo của đế quốc đỏ Liên Sô đã coi bản Hiệp Định do chính họ “long trọng ký kết” không có giá trị hơn tờ giấy vệ sinh.

Chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà Sử gia Trần Gia Phụng khẳng định là “chế độ chính thống” trong cuộc chiến tại Việt Nam (1945-1975) đã sụp đổ sau khi “đồng minh tháo chạy”, miền Nam VN bị đặt dưới ách thống trị của một chế độ độc tài tàn bạo, phản nước, hại dân. Một “ngụy quyền” do một “ngụy thuyết” lai căng đẻ ra.

http://pppre.s3.amazonaws.com/371d4940d912fc92/b/683cce5b9bff447589d6513d7ae1df5a.jpg

Dân miền Nam Việt Nam như một dân tộc bị lưu đày trên chính quê hương của mình, mọi thứ quyền của con người đều bị tước đoạt, sống dưới một chế độ hà khắc, hung ác hơn bất cứ chế độ thực dân nào từ trước từng đô hộ Việt Nam. Số người bị tù tội oan ức nhiều hơn bất cứ thời nào trước đó.

Hàng triệu người đã băng rừng, vượt biển bỏ nước ra đi mà một phần tư, hay một phần ba đã không đến được bến bờ tự do. Tội ác lớn nhất trong lịch sử của kẻ xâm lược.

Những người ở lại không một tia hy vọng có sự đổi thay, vì cho đến lúc đó không có chế độ cộng sản nào đã bị lật đổ hay tự thay đổi.

Tháng 6 năm 1989, cuộc nổi dậy hào hùng của thanh niên sinh viên Trung Hoa tại Thiên An Môn đòi tự do dân chủ đã bị Cộng sản Tàu đàn áp đẫm máu càng khiến dân Việt Nam thêm bi quan, tuyệt vọng.

 Nhưng chỉ vài tháng sau, hàng loạt các chế độ Cộng sản ở Đông Âu theo nhau sụp đổ “đẹp như mơ” và cuối cùng Đế quốc Đỏ Liên-Sô tan rã trước những con mắt kinh ngạc của cả thế giới.

Vậy, trước những biến cố “kinh thiên động địa” xảy ra tại Việt Nam và trên thế giới trong 42 năm qua, dân Việt Nam đã học được điều gì?

Thiết nghĩ không khó lắm để lãnh hội bài học sinh tử: “Vận mệnh của một nước nằm trong tay của mỗi người dân nước ấy.”

Chứng minh:

- Năm 1975 ta mất nước vì ta lệ thuộc “đồng minh” quá nhiều , để “đồng minh” quyết định thay ta.

- Cộng sản Đông Âu và Liên Sô sụp đổ là do chính nhân dân các nước ấy đứng lên làm cách mạng.

Chế độ tự mệnh danh là “Cộng Sản”, là “Xã hội Chủ nghĩa” tại Việt Nam ngày nay thật ra đã biến thể thành một gian đảng cấu kết với nhau để tiếp tục nắm quyền, tàn phá đất nước, đày ải nhân dân, hoàn toàn bán linh hồn cho bọn Hán tộc tham tàn phương Bắc.

“Chế độ khốn nạn” ấy, lời Luật sư Nguyễn Văn Đài, không thể tồn tại, nhưng nó sẽ không biến mất nếu dân Việt Nam không quật khởi đứng lên, tự cứu lấy mình, gia đình mình, và đất nước của mình.

Không ai có thể làm thay dân Việt Nam điều ấy, dù là Liên Hiệp Quốc, dù là những tổ chức Nhân quyền quốc tế với danh xưng hay đẹp, lại càng không thể là siêu cường Hoa Kỳ, anh “Sen đầm quốc tế” đã thấm mệt và mất “uy” đối với các trùm gian đảng trên thế giới.

Có khi những “can thiệp” này nọ từ bên ngoài, dựa trên những nguyên tắc cao đẹp của loài người văn minh, lại bị bọn gian đảng tại Quận Ba Đình, Hà-nội, khai thác, giúp chúng mua thêm thời gian để tồn tại.

Ký Thiệt